Kiên Hải triển khai Kế hoạch đào tạo nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn đặc khu năm 2026

Ủy ban nhân dân đặc khu Kiên Hải ban hành Kế hoạch số 127 về việc đào tạo nghề và đào tạo nghề lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang năm 2026…

Để triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương và của tỉnh về đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho lao động nông thôn; cụ thể hóa mục tiêu phát triển nguồn nhân lực năm 2026 theo định hướng tại Nghị quyết số 24/NQ-HĐND, Kế hoạch số 10/KH-UBND. Qua đó nâng cao chất lượng đào tạo nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đặc khu. Tạo điều kiện thuận lợi để người lao động, nhất là lao động nông thôn, được tiếp cận và tham gia các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và điều kiện thực tế của địa phương; gắn đào tạo với giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn. Theo đó, với yêu cầu như Kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đặc khu; phù hợp với mục tiêu phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2026-2030 theo Kế hoạch số 10/KH-UBND; bảo đảm tính khả thi, thiết thực và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Tổ chức triển khai thực hiện phải đồng bộ, thống nhất; phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, ban ngành và các ấp; tăng cường phối hợp liên ngành, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện. Công tác đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, nhất là cung ứng nguồn nhân lực phục vụ các sự kiện, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và tỉnh; đồng thời ưu tiên đào tạo nghề cho lao động nông thôn, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, lao động nữ, người khuyết tật và các đối tượng chính sách, bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch. Việc sử dụng kinh phí và các nguồn lực phải đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; kịp thời sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và đề xuất điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. 

Đồng thời, mục tiêu chung là triển khai hiệu quả công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn đặc khu Kiên Hải năm 2026 theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại và gắn với nhu cầu thị trường lao động; nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, mở rộng cơ hội tiếp cận đào tạo cho người lao động, nhất là lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất, thu nhập và bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh. Theo đó, về mục tiêu cụ thể dự kiến mở 08 lớp (mỗi lớp từ 30-35 học viên) đào tạo nghề ở lĩnh vực phi nông nghiệp và nông nghiệp. Tuyển sinh, đào tạo người tham gia học các trình độ giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho 300 người (Theo phụ lục đính kèm). Đảm bảo nghề phi nông nghiệp chiếm khoảng 60%, nghề nông nghiệp khoảng 40%. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề, đặc biệt đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 72%.

Song song đó, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách về giáo dục nghề nghiệp rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung và ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh; bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định của Trung ương và định hướng phát triển nguồn nhân lực theo Nghị quyết số 24/NQ-HĐND và Kế hoạch số 10/KH-UBND. Thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ người học nghề; chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho người lao động; đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục nghề nghiệp. Đồng thời, tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận, thụ hưởng chính sách kịp thời, minh bạch và hiệu quả. Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng nghiệp và phân luồng đẩy mạnh tuyên truyền về vai trò, ý nghĩa của giáo dục nghề nghiệp; đa dạng hóa hình thức tư vấn, hướng nghiệp tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và tại cộng đồng dân cư. Tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông vào học nghề; nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là lao động nông thôn, về cơ hội việc làm và thu nhập sau đào tạo.

Đòng thời, tổ chức đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động Rà soát, khảo sát nhu cầu học nghề và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; xây dựng kế hoạch đào tạo sát thực tế, tránh trùng lặp, dàn trải. Ưu tiên đào tạo các ngành, nghề phục vụ phát triển kinh tế biển, du lịch, logistics, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tăng cường liên kết với doanh nghiệp và giải quyết việc làm sau đào tạo. Đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, thực tập và tuyển dụng lao động; mở rộng đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Gắn đào tạo nghề với các chương trình giải quyết việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Thực hiện chính sách hỗ trợ và bảo đảm công bằng trong tiếp cận đào tạo nghề Triển khai đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ học nghề cho lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật và các đối tượng chính sách khác; ưu tiên đào tạo nghề cho lao động ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Ngoài ra, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực Lồng ghép các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác để thực hiện đào tạo nghề; bảo đảm quản lý, sử dụng kinh phí đúng quy định, tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tổ chức đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; đánh giá chất lượng đào tạo và tỷ lệ có việc làm sau đào tạo. Kịp thời sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh./.

Tin: Thanh Vũ